BÀ CHÚA BẦU
Ngày xưa, ở huyện Lập
Thạch thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày nay có một bà cụ trồng được một cây bầu rất kỳ lạ.
Cây bầu lớn nhanh nhưng chỉ có mỗi một dây chứ
không ra nhiều nhánh, nhiều ngọn như những cây bầu bình thường khác. Dây bầu cứ
thế lan ra, rồi lan mãi.
Từ huyện Lập Thạch dây bầu bò lên các ngọn đồi,
băng qua các con suối, lại băng qua các khúc đèo, rồi cứ thế bò đến tận huyện
Sơn Dương thuộc tỉnh Tuyên Quang. Tới Tuyên Quang, dây bầu leo lên một ngọn núi
cao thì dừng lại. Tại đây bầu trổ một bông hoa lớn, xung quanh có mấy bông hoa
nhỏ. Vài ngày sau bông hoa lớn kết thành quả. Thế rồi, chẳng mấy chốc quả bầu lớn
rất nhanh. Rồi lớn lên mãi. Chưa bao giờ có ai thấy một quả bầu lớn như vậy, gấp
đến hàng chục lần một quả bầu bình thường.
Khi quả bầu già vỏ khô lại, rồi tự nhiên vỏ
tách ra, từ trong lòng quả bước ra một cô gái bé nhỏ. Cô gái cúi xuống bứt một
nhánh bầu đưa lên miệng nhấm, rồi vươn vai, bỗng chốc trở thành một cô gái đã
trưởng thành. Cô gái có thân hình chắc khỏe và gương mặt vô cùng xinh đẹp.
Cô gái lần theo dây bầu, bước nhanh thoăn thoắt,
vượt qua tất cả các ngọn đồi, các con đèo, các con suối đẻ trở về chỗ gốc cây.
Cô gặp bà cụ trồng bầu và nhận bà cụ làm mẹ. Từ đó hai mẹ con làm ăn sinh sống
với nhau thật đầm ấm vui vẻ. Bà cụ đặt tên cho cô là Bầu. Đó là cái cách đặt
tên giản dị, như từ lâu vốn thế.
Khi đã đến tuổi mãn chiều xế bóng thì bà cụ
quy tiên. Nàng Bầu khâm liệm cho mẹ rồi cùng dân làng đưa lên sườn núi để mai
táng. Khi đào huyệt đặt quan tài, nàng bắt được một cái chuông lạ. Công việc
xong xuôi nàng đem cái chuông ấy về nhà.
Điều kỳ diệu chuông tuy bé nhưng mỗi khi gõ
vào thì tiếng kêu lên rất to và vang đi rất xa. Từ Lập Thạch, tiếng chuông vang
tới khắp mấy huyện xung quanh. Điều kỳ diệu nữa là, khi nghe tiếng chuông, lòng
người ai nấy cũng đều cảm thấy xôn xang, như có điều gì nung nấu ở bên trong,
thì chân tay thì đều như muốn cử động..
Khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Phong
Châu, nàng Bầu hay tin bèn gõ chuông lên, tiếng chuông ngân nga rồi đổ hồi, khắp
cả mấy huyện xung quanh đều nghe thấy. Tiếng chuông như nhấn mãi vào lòng mọi
người một điều gì đó mà không ai có thể bỏ qua được.
Nghe tiếng chuông, các chàng trai cô gái đang
cày cuốc trên đồng, các chành trai đang lặn lội săn bắn ở trong rừng sâu, hay
đang quăng chài kiếm cá ở dưới sông ... tất thảy đều bỏ dở công việc, sẵn cung
tên hoặc trở về nhà lấy giáo mác, rồi cứ thế, băng đèo lội suối chạy một mạch về
phía huyện Lập Thạch, đến bên cạnh nàng Bầu. Chỉ trong một ngày đã có tới mấy
ngàn người có mặt. Gươm đao giáo mác sáng rền, cung nỏ tua tủa, cờ bay rợp trời.
Rồi mọi người vào cơ ngũ tề chỉnh, nhất tề tôn phù nàng Bầu lên làm chủ tướng .
Việc tôn phù ấy là xứng đáng, bởi vì nàng Bầu
chẳng những là chủ của chiếc chuông quý làm rung động lòng người, mà hơn nữa, từ
lâu nàng đã là một người hào hiệp, năng tập luyện tinh thông võ nghệ, và được mọi
người kính phục.
Đoàn quân của nàng Bầu từ Lập Thạch tiến về
Phong Châu hợp với quân của Hai Bà Trưng, đánh cho Tô Định những đòn thất điên
bát đảo. 65 thành trì bị hạ, đất nước thu về một mối, Bà Trưng Trắc lên ngôi
vua. Các tướng lĩnh được phong tướng. Nàng Bầu trở thành công chúa nhưng quan
sĩ, vốn gần gũi, đã gọi là Bà Chúa Bầu. Bà chúa Bầu đem quân bản bộ về quê
hương, làm ăn sinh sống.
Ba năm sau, Mã Viện đem quân sang đáng nước
ta. Hay tin, những hồi chuông của bà chúa Bầu lại gióng lên, và mọi người lại
lên đường về tập hợp lực lượng, cùng Hai bà Trừng chống giặc.
Nhưng lần này quân địch đông, được chuẩn bị đầy
đủ, lại dưới quyền một tên tướng có nhiều mưu sâu kế độc, nên sau nhiều lần
giao chiến, quân ta bị thất bại. Hai Bà Trưng trầm mình ở cửa sông Hát còn quân
của bà chúa Bầu lúc ấy cũng chạy về vùng Đạo Trù thuộc huyện Lập Thạch.
Khi thấy không còn cách nào cứu vãn nổi tình
thế, bà sai quân lính vứt chiếc chuông xuống vực, rồi tự mình cũng nhảy xuống
đó, quyên sinh.
Từ đó, các đời sau, mọi người trong vùng Lập
Thạch, Sơn Dương đã lập đèn thờ tưởng nhớ công lao của bà ở những nơi xảy ra sự
tích.
Thôn của bà mẹ trồng bầu được gọi là thôn Bầu.
Ngọn núi Sơn Dương (Tuyên Quang) được gọi là núi Bầu.
Nơi bà sai vứt chuông rồi tụ vẫn là vực Chuông.
Tại các nơi đền thờ bà, hàng năm dân làng vẫn mở
hội lễ. Các triều đại trước kia đều có sắc thượng phong cho bà.
Ngọn núi Sơn Dương (Tuyên Quang) được gọi là núi Bầu.
Nơi bà sai vứt chuông rồi tụ vẫn là vực Chuông.